Tất-đạt-đa Cồ-đàm là tên của vị Phật lịch sử, từng sống trên trái đất, người sáng lập Phật Giáo. Ông cũng còn được gọi là Phật Tổ Như Lai
Hình xăm Phật Như Lai Trên lưng
Xuất gia và thành đạo
- Năm 29 tuổi, sau khi công chúa Da-du-đà-la hạ sinh một bé trai - được đặt tên là La-Hầu-La thái tử. Ông quyết định lìa cung điện, cùng tu khổ hạnh với nhiều nhóm tăng sĩ khác nhau. Ông quyết tâm tìm cách diệt khổ và tìm mọi đạo sư với các giáo pháp khác nhau.
- Theo truyền thống Ấn Độ bấy giờ chỉ có con đường khổ hạnh mới đưa đến đạt đạo. Các vị đạo sư khổ hạnh danh tiếng thời đó là A-La-La-Ca-Lam và Ưu-Đà-La-La-Ma-Tử.
- Nơi A-la-la Ca-lam, Tất-đạt-đa học đạt đến cấp Thiền Vô sở hữu xứ, nơi Ưu-đà-la La-ma tử thì học đạt đến cấp Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ.
- Nhưng ông cũng không tìm thấy nơi các vị đó lời giải cho thắc mắc của mình, nên quyết tâm tự mình tìm đường giải thoát và có năm Tỳ-Kheo (năm anh em Kiều Trần Như) đồng hành. Sau nhiều năm tu khổ hạnh gần kề cái chết, ông nhận ra đó không phải là phép tu dẫn đến giác ngộ, bắt đầu ăn uống bình thường, năm tỉ-khâu kia thất vọng bỏ đi.
- Không đạt giải thoát với cách tu khổ hạnh, ông từ bỏ phép tu này. Quả quyết rằng mình đã đi đến chỗ cùng cực của công phu tu khổ hạnh và khổ hạnh không dẫn đến giác ngộ, ông tìm phương pháp khác. 
- Sau đó Tất-đạt-đa ăn uống bình thường trở lại, đến Giác Thành, ngồi dưới gốc một Cây Bồ-Đề ở Bồ Đề Đạo Tràng và nguyện sẽ nhập định không rời chỗ ngồi cho đến lúc tìm ra nguyên nhân và cơ chế của Khổ. Sau 49 ngày thiền định—mặc dù bị Ma vương quấy nhiễu—Tất-đạt-đa đạt giác ngộ hoàn toàn ở tuổi 35.
- Ông lúc đó biết rằng kinh nghiệm giác ngộ của mình không thể dùng ngôn từ hay bất cứ một cách nào khác để truyền đạt nên ông tiếp tục yên lặng ngồi thiền định dưới gốc cây Bồ-đề. Cuối cùng, được sự thỉnh cầu nhiều nơi, ông mới quyết định chuyển Pháp Luân.
- Ông giờ đây mang danh hiệu Thích-ca Mâu-ni. Sau đó ông gặp lại năm vị tỉ-khâu, các vị đó nhận ra rằng ông đã hoàn toàn thay đổi.
- Qua hào quang toả ra từ thân ông, các vị đó biết rằng người này đã đạt đạo, đã tìm ra con đường thoát khổ, con đường mà các vị đó không thể tìm ra bằng phép tu khổ hạnh. Các vị đó xin được giảng pháp và vì lòng thương chúng sinh, ông chấm dứt sự im lặng.

Hình Xăm Phật Tổ Đẹp (p2)

Tất-đạt-đa Cồ-đàm là tên của vị Phật lịch sử, từng sống trên trái đất, người sáng lập Phật Giáo. Ông cũng còn được gọi là Phật Tổ Như Lai
Hình xăm Phật Như Lai Trên lưng
Xuất gia và thành đạo
- Năm 29 tuổi, sau khi công chúa Da-du-đà-la hạ sinh một bé trai - được đặt tên là La-Hầu-La thái tử. Ông quyết định lìa cung điện, cùng tu khổ hạnh với nhiều nhóm tăng sĩ khác nhau. Ông quyết tâm tìm cách diệt khổ và tìm mọi đạo sư với các giáo pháp khác nhau.
- Theo truyền thống Ấn Độ bấy giờ chỉ có con đường khổ hạnh mới đưa đến đạt đạo. Các vị đạo sư khổ hạnh danh tiếng thời đó là A-La-La-Ca-Lam và Ưu-Đà-La-La-Ma-Tử.
- Nơi A-la-la Ca-lam, Tất-đạt-đa học đạt đến cấp Thiền Vô sở hữu xứ, nơi Ưu-đà-la La-ma tử thì học đạt đến cấp Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ.
- Nhưng ông cũng không tìm thấy nơi các vị đó lời giải cho thắc mắc của mình, nên quyết tâm tự mình tìm đường giải thoát và có năm Tỳ-Kheo (năm anh em Kiều Trần Như) đồng hành. Sau nhiều năm tu khổ hạnh gần kề cái chết, ông nhận ra đó không phải là phép tu dẫn đến giác ngộ, bắt đầu ăn uống bình thường, năm tỉ-khâu kia thất vọng bỏ đi.
- Không đạt giải thoát với cách tu khổ hạnh, ông từ bỏ phép tu này. Quả quyết rằng mình đã đi đến chỗ cùng cực của công phu tu khổ hạnh và khổ hạnh không dẫn đến giác ngộ, ông tìm phương pháp khác. 
- Sau đó Tất-đạt-đa ăn uống bình thường trở lại, đến Giác Thành, ngồi dưới gốc một Cây Bồ-Đề ở Bồ Đề Đạo Tràng và nguyện sẽ nhập định không rời chỗ ngồi cho đến lúc tìm ra nguyên nhân và cơ chế của Khổ. Sau 49 ngày thiền định—mặc dù bị Ma vương quấy nhiễu—Tất-đạt-đa đạt giác ngộ hoàn toàn ở tuổi 35.
- Ông lúc đó biết rằng kinh nghiệm giác ngộ của mình không thể dùng ngôn từ hay bất cứ một cách nào khác để truyền đạt nên ông tiếp tục yên lặng ngồi thiền định dưới gốc cây Bồ-đề. Cuối cùng, được sự thỉnh cầu nhiều nơi, ông mới quyết định chuyển Pháp Luân.
- Ông giờ đây mang danh hiệu Thích-ca Mâu-ni. Sau đó ông gặp lại năm vị tỉ-khâu, các vị đó nhận ra rằng ông đã hoàn toàn thay đổi.
- Qua hào quang toả ra từ thân ông, các vị đó biết rằng người này đã đạt đạo, đã tìm ra con đường thoát khổ, con đường mà các vị đó không thể tìm ra bằng phép tu khổ hạnh. Các vị đó xin được giảng pháp và vì lòng thương chúng sinh, ông chấm dứt sự im lặng.

Đọc thêm..
Tất-đạt-đa Cồ-đàm, cũng được gọi là Thích-ca Mâu-ni.là người sáng lập Phật Giáo, tất-đạt-đa có nghĩa là "người đã hoàn tất ý nghĩa [cuộc sống]"
Bối cảnh và gia thế
- Tất-đạt-đa sinh khoảng năm 624 trước Công Nguyên và nhập Niết Bàn khi đã sống được khoảng 80 tuổi, trong một gia đình hoàng tộc thuộc dòng Thích-ca. thuộc Nepal ngày nay. Cha của ông là Vua Tịnh Phạn, mẹ là hoàng hậu Maya, sinh ra ông trong khu vực vườn Lâm-Tỳ-Ni, một thị trấn thuộc Ấn Độ. Đây là khu vực nằm giữa dãy HI-Mã-Lạp và sông Hằng


- Có nhiều truyền thuyết về thái tử Tất-đạt-đa. Có thuyết cho rằng một đêm bà mẹ nằm mơ thấy một vị Bồ Tát với dạng con Voi trắng nhập vào người mình. Thái tử sinh ra từ hông bên mặt của mẹ, sau đó đi bảy bước, một tay chỉ lên trời, tay kia chỉ xuống đất, nói:
Ta là người cao quý nhất thế gian
Ta là người giỏi nhất thế gian
Ta là người kiệt xuất nhất thế gian
Đây là lần tái sinh cuối cùng
Bây giờ không còn tái sinh!
- Ngay lúc sinh ra, ông đã có đầy đủ hảo tướng (tam thập nhị hảo tướng). Các nhà tiên tri cho rằng ông sẽ trở thành hoặc một đại đế hay một bậc giác ngộ. 7 ngày sau khi sinh thì mẹ mất, ông được người dì là Ma-ha-ba-xà-ba-đề chăm sóc. Năm lên 16 tuổi, ông kết hôn với công chúa Da-Du-Đà-La
- Vua cha Tịnh Phạn dĩ nhiên không muốn thái tử đi tu nên dạy dỗ cho con rất kỹ lưỡng, nhất là không để ông tiếp xúc với cảnh khổ. Tuy thế, sau bốn lần ra bốn cửa thành và thấy cảnh người già, người bệnh, người chết và một vị tu sĩ, thái tử phát tâm rồi từ biệt hoàng cung, sống cảnh không nhà.
- Tương truyền rằng, bốn cảnh ngộ vừa kể là những cảnh tượng do các vị thiên nhân tạo ra nhằm nhắc nhở ông lên đường tu học Phật Quả Thái tử thấy rằng ba cảnh đầu tượng trưng cho cái Khổ trong thế gian và hình ảnh tu sĩ chính là cuộc đời của ông.

Hình Xăm Phật Tổ Đẹp (p1)

Tất-đạt-đa Cồ-đàm, cũng được gọi là Thích-ca Mâu-ni.là người sáng lập Phật Giáo, tất-đạt-đa có nghĩa là "người đã hoàn tất ý nghĩa [cuộc sống]"
Bối cảnh và gia thế
- Tất-đạt-đa sinh khoảng năm 624 trước Công Nguyên và nhập Niết Bàn khi đã sống được khoảng 80 tuổi, trong một gia đình hoàng tộc thuộc dòng Thích-ca. thuộc Nepal ngày nay. Cha của ông là Vua Tịnh Phạn, mẹ là hoàng hậu Maya, sinh ra ông trong khu vực vườn Lâm-Tỳ-Ni, một thị trấn thuộc Ấn Độ. Đây là khu vực nằm giữa dãy HI-Mã-Lạp và sông Hằng


- Có nhiều truyền thuyết về thái tử Tất-đạt-đa. Có thuyết cho rằng một đêm bà mẹ nằm mơ thấy một vị Bồ Tát với dạng con Voi trắng nhập vào người mình. Thái tử sinh ra từ hông bên mặt của mẹ, sau đó đi bảy bước, một tay chỉ lên trời, tay kia chỉ xuống đất, nói:
Ta là người cao quý nhất thế gian
Ta là người giỏi nhất thế gian
Ta là người kiệt xuất nhất thế gian
Đây là lần tái sinh cuối cùng
Bây giờ không còn tái sinh!
- Ngay lúc sinh ra, ông đã có đầy đủ hảo tướng (tam thập nhị hảo tướng). Các nhà tiên tri cho rằng ông sẽ trở thành hoặc một đại đế hay một bậc giác ngộ. 7 ngày sau khi sinh thì mẹ mất, ông được người dì là Ma-ha-ba-xà-ba-đề chăm sóc. Năm lên 16 tuổi, ông kết hôn với công chúa Da-Du-Đà-La
- Vua cha Tịnh Phạn dĩ nhiên không muốn thái tử đi tu nên dạy dỗ cho con rất kỹ lưỡng, nhất là không để ông tiếp xúc với cảnh khổ. Tuy thế, sau bốn lần ra bốn cửa thành và thấy cảnh người già, người bệnh, người chết và một vị tu sĩ, thái tử phát tâm rồi từ biệt hoàng cung, sống cảnh không nhà.
- Tương truyền rằng, bốn cảnh ngộ vừa kể là những cảnh tượng do các vị thiên nhân tạo ra nhằm nhắc nhở ông lên đường tu học Phật Quả Thái tử thấy rằng ba cảnh đầu tượng trưng cho cái Khổ trong thế gian và hình ảnh tu sĩ chính là cuộc đời của ông.
Đọc thêm..

Tại Trung Quốc xuất hiện một nghệ sĩ chuyên xăm hình cho lợn sau đó bán cho những “tay chơi” với giá ngất ngưởng đến hàng tỷ đồng.
        win delvoye đang xăm cho 1 chú lợn
Wim Delvoye, một nghệ sĩ người Bỉ đang sống tại một làng nhỏ tại huyện Thuận Nghĩa, thành phố Bắc Kinh, Trung Quốc bỗng trở thành “tỷ phú” khi kiếm sống bằng nghề xăm hình cho lợn.
Ông Wim đã mở hẳn một trung tâm chuyên xăm hình cho lợn cách đây hơn chục năm. Những hình xăm trên lợn mà Wim thực hiện cũng rất đẹp và đa dạng không kém gì trên người
     Chú lợn xăm hình búp bê baby
       Những chú lợn với đủ loại hình xăm
Các nghệ sĩ trong trung tâm xăm hình trên cơ thể lợn hai giờ mỗi tuần từ khi chúng được 2-3 tháng tuổi.Sau khi xăm hình xong, giá của mỗi chú lợn có thể lên tới 1 triệu tệ (tương đương khoảng 3,5 tỷ đồng).
Thậm chí sau khi những chú lợn này chết đi vẫn có thể bán rất được giá vì khi đó họ sẽ lột da của chúng và làm vật trang trí treo trong nhà. Hầu hết những người đến mua da lợn xăm đều là những nhà sưu tập nước ngoài
  Những Tấm Da lợn sau khi giết sẽ được bày bán
Da lợn bán ra nước ngoài làm đồ trang trí
Tuy nhiên việc làm này cũng gây rất nhiều tranh cãi. Nhiều người công nhận chúng là những tác phẩm hội họa độc đáo. Song một số người lo ngại rằng làm vậy sẽ làm ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của lợn.Dù những chú lợn được gây mê trước khi xăm hình nhưng việc làm này vẫn phải nhận lấy những cáo buộc về sự tàn ác đối với động vật.
Những chú lợn sau khi xăm được thả đi ăn tự do
Nhiều người tỏ ra tội nghiệp cho những chú lợn này khi chúng phải chịu cảm giác đau đớn trong quá trình xăm hình.....

Tiền Tỷ Từ Xăm Mình Trên Lợn


Tại Trung Quốc xuất hiện một nghệ sĩ chuyên xăm hình cho lợn sau đó bán cho những “tay chơi” với giá ngất ngưởng đến hàng tỷ đồng.
        win delvoye đang xăm cho 1 chú lợn
Wim Delvoye, một nghệ sĩ người Bỉ đang sống tại một làng nhỏ tại huyện Thuận Nghĩa, thành phố Bắc Kinh, Trung Quốc bỗng trở thành “tỷ phú” khi kiếm sống bằng nghề xăm hình cho lợn.
Ông Wim đã mở hẳn một trung tâm chuyên xăm hình cho lợn cách đây hơn chục năm. Những hình xăm trên lợn mà Wim thực hiện cũng rất đẹp và đa dạng không kém gì trên người
     Chú lợn xăm hình búp bê baby
       Những chú lợn với đủ loại hình xăm
Các nghệ sĩ trong trung tâm xăm hình trên cơ thể lợn hai giờ mỗi tuần từ khi chúng được 2-3 tháng tuổi.Sau khi xăm hình xong, giá của mỗi chú lợn có thể lên tới 1 triệu tệ (tương đương khoảng 3,5 tỷ đồng).
Thậm chí sau khi những chú lợn này chết đi vẫn có thể bán rất được giá vì khi đó họ sẽ lột da của chúng và làm vật trang trí treo trong nhà. Hầu hết những người đến mua da lợn xăm đều là những nhà sưu tập nước ngoài
  Những Tấm Da lợn sau khi giết sẽ được bày bán
Da lợn bán ra nước ngoài làm đồ trang trí
Tuy nhiên việc làm này cũng gây rất nhiều tranh cãi. Nhiều người công nhận chúng là những tác phẩm hội họa độc đáo. Song một số người lo ngại rằng làm vậy sẽ làm ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của lợn.Dù những chú lợn được gây mê trước khi xăm hình nhưng việc làm này vẫn phải nhận lấy những cáo buộc về sự tàn ác đối với động vật.
Những chú lợn sau khi xăm được thả đi ăn tự do
Nhiều người tỏ ra tội nghiệp cho những chú lợn này khi chúng phải chịu cảm giác đau đớn trong quá trình xăm hình.....

Đọc thêm..
Kỳ lân hay còn gọi là lân, li, là một trong 4 linh vật của tứ linh theo tín ngưỡng dân gian Á Đông như tại Triều Tiên, Nhật Bản, Trung Quốc, Việt Nam…
      
Lân có đầu nửa rồng nửa thú, đôi khi chỉ có một sừng, do không húc ai bao giờ nên sừng này là hiện thân của từ tâm. Phần nhiều lân có sừng nai, tai chó, trán lạc đà, mắt quỷ, mũi sư tử, miệng rộng, thân ngựa, chân hươu, đuôi bò.
Thực ra trong tạo hình của người Việt chúng không tuân thủ đầy đủ các nguyên tắc này. Chúng thường được thể hiện trong tư cách đội tòa sen, làm chỗ dựa cho Văn Thù bồ tát hay các Hộ Pháp, và nhiều khi ngồi trên đầu cột cổng hay xuất hiện trên mái nhà. Trong những tư cách này kỳ lân xuất hiện cho sức mạnh của linh vật tầng trên, cho trí tuệ và như thể chúng có khả năng kiểm soát tâm hồn những người hành hương.
Ý Nghĩa Của Kỳ Lân Trong Phong Thủy
Kỳ lân cũng là một trong “tứ linh”. Theo truyền thuyết, kỳ lân thường phù trợ cho người hiếu thuận, lương thiện, bởi thế mà được coi là loài thú nhân từ.
- Tránh tà, ngăn cản sát khí: Nếu cửa chính bị hành lang trực xung, phạm phải “xuyên tâm sát” hay “thương sát”, có thể dùng một đôi kỳ lân để hóa giải. Trong trường hợp hành lang khá ngắn, sát khí không quá mạnh, chỉ cần sử dụng một kỳ lân đơn. Nhưng nếu hành lang dài mà thẳng, tức sát khí mãnh liệt có thể dùng ba kỳ lân để hóa giải.
- Hóa giải Tam Sát: Phương vị của Tam Sát là khác nhau thùy theo năm hạn. Để hóa giải Tam Sát cần sử dụng ba kỳ lân (tốt nhất là kỳ lân đã được khai quang) đặt ở phương vị Tam Sát, đầu kỳ lân đặt quay về hướng Tam Sát.
- Cải vận, giảm nhẹ tai ương cho gia đình: Kỳ lân là loài vật đặc trưng cho cát tường, nếu đặt kỳ lân trong nhà sẽ có tác dụng trấn trạch trừ tà, tăng phúc lộc cho gia đình, không chỉ giúp gia chủ sự nghiệp hanh thông mà còn xoay chuyển tài vận. Ngoài ra, kỳ lân còn giúp được gia chủ tránh được khí độc gây vận xấu. Kỳ lân dùng trong mục đích cải vận tốt nhất cần được khai quang thì mới phát huy công lực một cách trọn vẹn.
- Hóa giải bất lợi của Bạch Hổ: Đặt một đôi kỳ lân tại vị trí Bạch Hổ trong nhà ở, có thể hóa giải được tính hung của phương Bạch Hổ, bảo vệ người nhà bình yên. Đặc biệt, khi phương Bạch Hổ bị ống khói hoặc vật sắc nhọn xung phải thì kỳ lân đã qua khai quang có thể hóa giải rất hiệu nghiệm.
Ngoài ra, kỳ lân còn có khả năng hóa giải tà khí của các hung tinh trong vận hạn. Kỳ lân tượng trưng cho sự tốt lành, có thể đặt ở bất kỳ phương nào trong nhà. Kỳ lân đã qua khai quang có khả năng trấn trạch, trừ tà, tăng gia phúc lộc. Kỳ lân lại được tạo hình tinh xảo, có tính thẩm mỹ cao, sẽ là món quà rất ý nghĩa để mừng nhà mới.

Kỳ Lân Trong Nghệ Thuật Xăm Mình Và Tín Ngưỡng

Kỳ lân hay còn gọi là lân, li, là một trong 4 linh vật của tứ linh theo tín ngưỡng dân gian Á Đông như tại Triều Tiên, Nhật Bản, Trung Quốc, Việt Nam…
      
Lân có đầu nửa rồng nửa thú, đôi khi chỉ có một sừng, do không húc ai bao giờ nên sừng này là hiện thân của từ tâm. Phần nhiều lân có sừng nai, tai chó, trán lạc đà, mắt quỷ, mũi sư tử, miệng rộng, thân ngựa, chân hươu, đuôi bò.
Thực ra trong tạo hình của người Việt chúng không tuân thủ đầy đủ các nguyên tắc này. Chúng thường được thể hiện trong tư cách đội tòa sen, làm chỗ dựa cho Văn Thù bồ tát hay các Hộ Pháp, và nhiều khi ngồi trên đầu cột cổng hay xuất hiện trên mái nhà. Trong những tư cách này kỳ lân xuất hiện cho sức mạnh của linh vật tầng trên, cho trí tuệ và như thể chúng có khả năng kiểm soát tâm hồn những người hành hương.
Ý Nghĩa Của Kỳ Lân Trong Phong Thủy
Kỳ lân cũng là một trong “tứ linh”. Theo truyền thuyết, kỳ lân thường phù trợ cho người hiếu thuận, lương thiện, bởi thế mà được coi là loài thú nhân từ.
- Tránh tà, ngăn cản sát khí: Nếu cửa chính bị hành lang trực xung, phạm phải “xuyên tâm sát” hay “thương sát”, có thể dùng một đôi kỳ lân để hóa giải. Trong trường hợp hành lang khá ngắn, sát khí không quá mạnh, chỉ cần sử dụng một kỳ lân đơn. Nhưng nếu hành lang dài mà thẳng, tức sát khí mãnh liệt có thể dùng ba kỳ lân để hóa giải.
- Hóa giải Tam Sát: Phương vị của Tam Sát là khác nhau thùy theo năm hạn. Để hóa giải Tam Sát cần sử dụng ba kỳ lân (tốt nhất là kỳ lân đã được khai quang) đặt ở phương vị Tam Sát, đầu kỳ lân đặt quay về hướng Tam Sát.
- Cải vận, giảm nhẹ tai ương cho gia đình: Kỳ lân là loài vật đặc trưng cho cát tường, nếu đặt kỳ lân trong nhà sẽ có tác dụng trấn trạch trừ tà, tăng phúc lộc cho gia đình, không chỉ giúp gia chủ sự nghiệp hanh thông mà còn xoay chuyển tài vận. Ngoài ra, kỳ lân còn giúp được gia chủ tránh được khí độc gây vận xấu. Kỳ lân dùng trong mục đích cải vận tốt nhất cần được khai quang thì mới phát huy công lực một cách trọn vẹn.
- Hóa giải bất lợi của Bạch Hổ: Đặt một đôi kỳ lân tại vị trí Bạch Hổ trong nhà ở, có thể hóa giải được tính hung của phương Bạch Hổ, bảo vệ người nhà bình yên. Đặc biệt, khi phương Bạch Hổ bị ống khói hoặc vật sắc nhọn xung phải thì kỳ lân đã qua khai quang có thể hóa giải rất hiệu nghiệm.
Ngoài ra, kỳ lân còn có khả năng hóa giải tà khí của các hung tinh trong vận hạn. Kỳ lân tượng trưng cho sự tốt lành, có thể đặt ở bất kỳ phương nào trong nhà. Kỳ lân đã qua khai quang có khả năng trấn trạch, trừ tà, tăng gia phúc lộc. Kỳ lân lại được tạo hình tinh xảo, có tính thẩm mỹ cao, sẽ là món quà rất ý nghĩa để mừng nhà mới.
Đọc thêm..
Rồng hay Long là một loài vật xuất hiện trong thần thoại phương Đông Và phương Tây
- Rồng tượng trưng cho quyền uy tuyệt đối của các đấng thiên tử, sức mạnh và thịnh vượng, và mưa thuận gió hòa. Hình tượng rồng xuất hiện là để thể hiện cái ý thức của con người, luôn mong muốn được vươn tới cái đẹp chân – thiện – mỹ.
Rồng trên lưng mỹ nhân
Rồng Với truyền thống việt Nam
Con rồng Việt Nam là trang trí kiến trúc điêu khắc và hội họa hình rồng mang bản sắc riêng, theo trí tưởng tượng của người việt. Rồng là con thằn lằn. Nó khác với rồng trong trang trí kiến trúc và hội họa trung hoa và ở quốc gia khác
- Con rồng ở Việt Nam cũng tùy theo thời kỳ. Như hình ở trên là con rồng thời Lý, thể hiện sự nhẹ nhàng.Còn con rồng thời Trần thì mạnh mẽ hơn, thân hình to và khoẻ khoắn, vì thời Trần 3 lần chống quân nguyên-mông
Long phụng xum vầy
Rồng với văn hóa Trung Hoa
Vì đứng đầu trong tứ linh nên rồng có ảnh hưởng không nhỏ trong đời sống tâm linh của người dân Trung Quốc .
Rồng có chín đứa con (Long Sinh Cửu Tử), là chín loài thần thú nhưng không phải rồng. tùy vào tính cách của mỗi con mà người ta dùng trang trí ở những nơi khác nhau như mái hiên, nóc nhà, lan can, vũ khí, chiến thuyền... Là con thứ 9 của con Rồng theo quan niệm phương Đông. Đây là con vật rất trung thành với chủ, dù chủ nó làm nghề gì nên được rất nhiều người Trung Quốc
- Bí Hí là con trưởng của Rồng.Còn có tên khác là Quy Phu, Điền Hạ hay Bá Hạ. Linh vật có hình dáng thân rùa, đầu rồng, có sức mạnh vượt bậc, chịu được trọng lượng lớn nên thường được chạm khắc trang trí làm bệ đỡ cho các bệ đá, cột đá, bia đá...
- Li Vẫn là con thứ hai của Rồng.Còn có tên gọi là Si Vĩ hay Si Vẫn. Linh vật có đầu rồng, miệng rộng, thân ngắn, thích ngắm cảnh và thường giúp dân diệt hỏa hoạn nên được chạm khắc làm vật trang trí trên nóc các cung điện cổ, chùa chiền, đền đài…
- Bồ Lao là con thứ ba của Rồng.Linh vật thích âm thanh lớn, thường được đúc trên quai chuông với mong muốn chiếc chuông được đúc có âm thanh như ý muốn.
- Bệ Ngạn là con thứ tư của Rồng.Còn có tên gọi khác là Hiến Chương. Linh vật có hình dáng giống hổ, răng nanh dài và sắc, có sức thị uy lớn, thích lý lẽ và có tài cãi lý đòi sự công bằng khi có bất công, nhờ vậy bệ ngạn thường được đặt ở cửa nhà ngục hay pháp đường, ngụ ý răn đe người phạm tội và nhắc nhở mọi người nên sống lương thiện.
- Thao Thiết là con thứ năm của Rồng.Linh vật có đôi mắt to, miệng rộng, dáng vẻ kỳ lạ, có tính tham ăn vô độ nên được đúc trên các đồ dùng trong ăn uống như ngụ ý nhắc nhở người ăn đừng háo ăn mà trở nên bất lịch sự.
Rộng ngậm long châu
- Công Phúc là con thứ sáu của Rồng.Linh vật này thích nước nên được khắc làm vật trang trí ở các công trình hay phương tiện giao thông đường thủy như: cầu, rãnh dẫn nước, đập nước, bến tàu, thuyền bè… với mong muốn công phúc luôn tiếp xúc, cai quản, trông coi lượng nước phục vụ nhân dân.
- Nhai Xải là con thứ bảy của Rồng.Linh vật có tính khí hung hăng, thường nổi cơn thịnh nộ và ham sát sinh nên thường được chạm khắc trên các vũ khí như đao, búa, kiếm… ngụ ý thị uy, làm tăng thêm sức mạnh và lòng can đảm của các chiến binh nơi trận mạc.
- Toan Nghê là con thứ tám của Rồng.Linh vật có mình sư tử, đầu rồng, thích sự tĩnh lặng và thường ngồi yên ngắm cảnh khói hương tỏa lên nghi ngút nên được đúc làm vật trang trí trên các lò đốt trầm hương, ngụ ý mong muốn hương thơm của trầm hương luôn tỏa ngát.
- Tiêu Đồ là con thứ chín của Rồng.Linh vật có tính khí lười biếng, thường cuộn tròn nằm ngủ, không thích có kẻ lạ xâm nhập lãnh địa của mình nên thường được khắc trên cánh cửa ra vào, đúng vào vị trí tay cầm khi mở, ngụ ý răn đe kẻ lạ muốn xâm nhập nhằm bảo vệ sự an toàn cho chủ nhà.
Rồng với văn hóa Pương Tây
- Trong truyện cổ tích Nga hay của một số dân tộc ở Châu Âu, rồng thường được miêu tả như một loài bò sát có vảy, đuôi dài, thường có ba đầu thổi ra lửa và biết bay. Các đầu này có khả năng tự mọc ra nếu bị chặt mất đầu cũ. Một số rồng chỉ có 1 đầu và có một cái mõm ngắn, quặp như mỏ đại bàng.
- Cũng theo những truyện cổ phương Tây: rồng thường được giao nhiệm vụ canh giữ kho báu, lâu đài hay người đẹp, song thường tỏ ra là loài "hữu dũng vô mưu" vì thường chịu thua và thiệt mạng dưới tay một tráng sĩ.
- Đối với phương Tây, rồng là loài quái vật, tượng trưng cho sức mạnh nhưng nghiêng về ý nghĩa độc ác, hung dữ. Nó có hình dáng của khủng long có thêm sừng, cánh, vây lưng và có thể phun ra lửa hoặc nước… Da của nó rắn chắc, không loại vũ khí nào có thể sát thương được nhưng lại có điểm yếu nằm ở mắt và lưỡi, thường sống nơi hẻo lánh,con người ít đặt chân đến.
- Rồng cơ bản có 4 loại mang 4 sức mạnh của thiên nhiên là 4 yếu tố tạo nên vũ trụ: Gió, Lửa, Đất và Nước. 
- Từ 4 loại chính này mà người ta tưởng tượng ra nhiều loại rồng khác nhau: 
+ Rồng Đất sống trong những hang động sâu thẳm trong núi hoặc thung lũng. 
+Rồng Nước sống ở bờ biển, dưới biển, đầm lầy. 
+Rồng Lửa sống ở các hang động của núi lửa. 
+Rồng Gió sống ở các vách đá, đỉnh núi cao.

Rồng Từ Phương Đông Đến Phương Tây

Rồng hay Long là một loài vật xuất hiện trong thần thoại phương Đông Và phương Tây
- Rồng tượng trưng cho quyền uy tuyệt đối của các đấng thiên tử, sức mạnh và thịnh vượng, và mưa thuận gió hòa. Hình tượng rồng xuất hiện là để thể hiện cái ý thức của con người, luôn mong muốn được vươn tới cái đẹp chân – thiện – mỹ.
Rồng trên lưng mỹ nhân
Rồng Với truyền thống việt Nam
Con rồng Việt Nam là trang trí kiến trúc điêu khắc và hội họa hình rồng mang bản sắc riêng, theo trí tưởng tượng của người việt. Rồng là con thằn lằn. Nó khác với rồng trong trang trí kiến trúc và hội họa trung hoa và ở quốc gia khác
- Con rồng ở Việt Nam cũng tùy theo thời kỳ. Như hình ở trên là con rồng thời Lý, thể hiện sự nhẹ nhàng.Còn con rồng thời Trần thì mạnh mẽ hơn, thân hình to và khoẻ khoắn, vì thời Trần 3 lần chống quân nguyên-mông
Long phụng xum vầy
Rồng với văn hóa Trung Hoa
Vì đứng đầu trong tứ linh nên rồng có ảnh hưởng không nhỏ trong đời sống tâm linh của người dân Trung Quốc .
Rồng có chín đứa con (Long Sinh Cửu Tử), là chín loài thần thú nhưng không phải rồng. tùy vào tính cách của mỗi con mà người ta dùng trang trí ở những nơi khác nhau như mái hiên, nóc nhà, lan can, vũ khí, chiến thuyền... Là con thứ 9 của con Rồng theo quan niệm phương Đông. Đây là con vật rất trung thành với chủ, dù chủ nó làm nghề gì nên được rất nhiều người Trung Quốc
- Bí Hí là con trưởng của Rồng.Còn có tên khác là Quy Phu, Điền Hạ hay Bá Hạ. Linh vật có hình dáng thân rùa, đầu rồng, có sức mạnh vượt bậc, chịu được trọng lượng lớn nên thường được chạm khắc trang trí làm bệ đỡ cho các bệ đá, cột đá, bia đá...
- Li Vẫn là con thứ hai của Rồng.Còn có tên gọi là Si Vĩ hay Si Vẫn. Linh vật có đầu rồng, miệng rộng, thân ngắn, thích ngắm cảnh và thường giúp dân diệt hỏa hoạn nên được chạm khắc làm vật trang trí trên nóc các cung điện cổ, chùa chiền, đền đài…
- Bồ Lao là con thứ ba của Rồng.Linh vật thích âm thanh lớn, thường được đúc trên quai chuông với mong muốn chiếc chuông được đúc có âm thanh như ý muốn.
- Bệ Ngạn là con thứ tư của Rồng.Còn có tên gọi khác là Hiến Chương. Linh vật có hình dáng giống hổ, răng nanh dài và sắc, có sức thị uy lớn, thích lý lẽ và có tài cãi lý đòi sự công bằng khi có bất công, nhờ vậy bệ ngạn thường được đặt ở cửa nhà ngục hay pháp đường, ngụ ý răn đe người phạm tội và nhắc nhở mọi người nên sống lương thiện.
- Thao Thiết là con thứ năm của Rồng.Linh vật có đôi mắt to, miệng rộng, dáng vẻ kỳ lạ, có tính tham ăn vô độ nên được đúc trên các đồ dùng trong ăn uống như ngụ ý nhắc nhở người ăn đừng háo ăn mà trở nên bất lịch sự.
Rộng ngậm long châu
- Công Phúc là con thứ sáu của Rồng.Linh vật này thích nước nên được khắc làm vật trang trí ở các công trình hay phương tiện giao thông đường thủy như: cầu, rãnh dẫn nước, đập nước, bến tàu, thuyền bè… với mong muốn công phúc luôn tiếp xúc, cai quản, trông coi lượng nước phục vụ nhân dân.
- Nhai Xải là con thứ bảy của Rồng.Linh vật có tính khí hung hăng, thường nổi cơn thịnh nộ và ham sát sinh nên thường được chạm khắc trên các vũ khí như đao, búa, kiếm… ngụ ý thị uy, làm tăng thêm sức mạnh và lòng can đảm của các chiến binh nơi trận mạc.
- Toan Nghê là con thứ tám của Rồng.Linh vật có mình sư tử, đầu rồng, thích sự tĩnh lặng và thường ngồi yên ngắm cảnh khói hương tỏa lên nghi ngút nên được đúc làm vật trang trí trên các lò đốt trầm hương, ngụ ý mong muốn hương thơm của trầm hương luôn tỏa ngát.
- Tiêu Đồ là con thứ chín của Rồng.Linh vật có tính khí lười biếng, thường cuộn tròn nằm ngủ, không thích có kẻ lạ xâm nhập lãnh địa của mình nên thường được khắc trên cánh cửa ra vào, đúng vào vị trí tay cầm khi mở, ngụ ý răn đe kẻ lạ muốn xâm nhập nhằm bảo vệ sự an toàn cho chủ nhà.
Rồng với văn hóa Pương Tây
- Trong truyện cổ tích Nga hay của một số dân tộc ở Châu Âu, rồng thường được miêu tả như một loài bò sát có vảy, đuôi dài, thường có ba đầu thổi ra lửa và biết bay. Các đầu này có khả năng tự mọc ra nếu bị chặt mất đầu cũ. Một số rồng chỉ có 1 đầu và có một cái mõm ngắn, quặp như mỏ đại bàng.
- Cũng theo những truyện cổ phương Tây: rồng thường được giao nhiệm vụ canh giữ kho báu, lâu đài hay người đẹp, song thường tỏ ra là loài "hữu dũng vô mưu" vì thường chịu thua và thiệt mạng dưới tay một tráng sĩ.
- Đối với phương Tây, rồng là loài quái vật, tượng trưng cho sức mạnh nhưng nghiêng về ý nghĩa độc ác, hung dữ. Nó có hình dáng của khủng long có thêm sừng, cánh, vây lưng và có thể phun ra lửa hoặc nước… Da của nó rắn chắc, không loại vũ khí nào có thể sát thương được nhưng lại có điểm yếu nằm ở mắt và lưỡi, thường sống nơi hẻo lánh,con người ít đặt chân đến.
- Rồng cơ bản có 4 loại mang 4 sức mạnh của thiên nhiên là 4 yếu tố tạo nên vũ trụ: Gió, Lửa, Đất và Nước. 
- Từ 4 loại chính này mà người ta tưởng tượng ra nhiều loại rồng khác nhau: 
+ Rồng Đất sống trong những hang động sâu thẳm trong núi hoặc thung lũng. 
+Rồng Nước sống ở bờ biển, dưới biển, đầm lầy. 
+Rồng Lửa sống ở các hang động của núi lửa. 
+Rồng Gió sống ở các vách đá, đỉnh núi cao.
Đọc thêm..
Sói được người Bắc Âu Và Hy Lạp gọi Là Belen Hay Apollon. Nó là biểu tượng của ánh sáng và anh hùng chiến trận
Hình tượng chó sói là một mô típ phổ biến trong thần thoại của các dân tộc trên toàn lục địa Á-Âu và Bắc Mỹ tương ứng với mức độ lịch sử phân bố của môi trường sống của những con sói. 
Như chúng ta đã biết thuộc tính của chó sói là loại động vật ăn thịt, kẻ săn mồi đáng sợ và liên quan mật thiết với sự dũng mãnh, sự nam tính, lòng dũng cảm có tinh thần tổ chức, phối hợp, kỷ luật và chiến lược, sự kiên trì.
sói ngắm trăng trên lưng 1 eva
xăm hình chó sói thể hiện được sự dũng mãnh của bản thân đối với nam. Còn đối với nữ giới thì hình xăm chó soi mang lại sự cá tính đặc biệt, điều bí ẩn đang ẩn giấu trong con người bạn.
sói lãng mạng
Sói thể hiện sự trung thành với đồng loại, 1 sức mạnh tập thể mà không có zì sánh bằng.nó còn dược biết đến như 1 chiến binh gan dạ, luôn tỉnh táo phán đoán mọi chuyện trong mọi tình huống. người có hình xăm sói thể hiện rằng " họ rất coi trọng anh em và sẵn sàng hi sinh để bảo vệ anh em"
          hình xăm người sói
Với người Nhật – sói được coi như thần hộ mệnh chống lại các loài thú hoang dã khác. Nó gợi lên ý tưởng về một sức mạnh khó kiềm chế, bung ra mãnh liệt. Vì vậy, soi được rất nhiều người coi trọng và lựa chọn để xăm hình.
sói tru trong đêm trăng 
Ngoài ra, người Trung Hoa, Mông Cổ còn coi sói xanh là nhà trời. Bên cạnh đó, các dân tộc vùng thảo nguyên Bắc Mỹ tin rằng hình tượng sói trưng cho sự cô độc và lang thang khắp nhiều xứ sở.
Khi xăm hình xăm chó sói lên cơ thể bạn đã thể hiện ý nghĩa hành động của lòng sùng mộ, nam tính, thành công, chiến thắng, bí mật, lòng dũng cảm, sự thông minh, thế lực đen tối, ma quỷ, hung tợn, mạnh mẽ và tình cảm gia đình. 
Đặc biệt, chó sói được biết đến là loài trung thành vì nó sống thành bầy đàn, có một trật tự và hệ thống phân cấp rõ ràng.
sói sự cô đơn, lạnh lùng nhưng đầy kiêu hãnh và tự trọng

Vẽ Đẹp Và Hoang Dại Của Sói

Sói được người Bắc Âu Và Hy Lạp gọi Là Belen Hay Apollon. Nó là biểu tượng của ánh sáng và anh hùng chiến trận
Hình tượng chó sói là một mô típ phổ biến trong thần thoại của các dân tộc trên toàn lục địa Á-Âu và Bắc Mỹ tương ứng với mức độ lịch sử phân bố của môi trường sống của những con sói. 
Như chúng ta đã biết thuộc tính của chó sói là loại động vật ăn thịt, kẻ săn mồi đáng sợ và liên quan mật thiết với sự dũng mãnh, sự nam tính, lòng dũng cảm có tinh thần tổ chức, phối hợp, kỷ luật và chiến lược, sự kiên trì.
sói ngắm trăng trên lưng 1 eva
xăm hình chó sói thể hiện được sự dũng mãnh của bản thân đối với nam. Còn đối với nữ giới thì hình xăm chó soi mang lại sự cá tính đặc biệt, điều bí ẩn đang ẩn giấu trong con người bạn.
sói lãng mạng
Sói thể hiện sự trung thành với đồng loại, 1 sức mạnh tập thể mà không có zì sánh bằng.nó còn dược biết đến như 1 chiến binh gan dạ, luôn tỉnh táo phán đoán mọi chuyện trong mọi tình huống. người có hình xăm sói thể hiện rằng " họ rất coi trọng anh em và sẵn sàng hi sinh để bảo vệ anh em"
          hình xăm người sói
Với người Nhật – sói được coi như thần hộ mệnh chống lại các loài thú hoang dã khác. Nó gợi lên ý tưởng về một sức mạnh khó kiềm chế, bung ra mãnh liệt. Vì vậy, soi được rất nhiều người coi trọng và lựa chọn để xăm hình.
sói tru trong đêm trăng 
Ngoài ra, người Trung Hoa, Mông Cổ còn coi sói xanh là nhà trời. Bên cạnh đó, các dân tộc vùng thảo nguyên Bắc Mỹ tin rằng hình tượng sói trưng cho sự cô độc và lang thang khắp nhiều xứ sở.
Khi xăm hình xăm chó sói lên cơ thể bạn đã thể hiện ý nghĩa hành động của lòng sùng mộ, nam tính, thành công, chiến thắng, bí mật, lòng dũng cảm, sự thông minh, thế lực đen tối, ma quỷ, hung tợn, mạnh mẽ và tình cảm gia đình. 
Đặc biệt, chó sói được biết đến là loài trung thành vì nó sống thành bầy đàn, có một trật tự và hệ thống phân cấp rõ ràng.
sói sự cô đơn, lạnh lùng nhưng đầy kiêu hãnh và tự trọng
Đọc thêm..
Hình xăm mặt quỷ tuy không phải là hình xăm phổ biến trong giới xăm hình nhưng nếu sở hữu một hình xăm này, bạn thực sự là người cá tính và phong cách. 
Bên cạnh những ý nghĩa xấu xa mà người ta vẫn thường nghĩ cho hình xăm mặt quỷ, trên thực tế, hình xăm này cũng mang những ý nghĩa tích cực nhất định. Những mặt tích cực trong ý nghĩa hình xăm mặt quỷ dưới đây sẽ làm bạn có cái nhìn mới về mẫu hình xăm đặc biệt này.
Hình xăm quỹ hanya
- Theo quan niệm của người xưa, quỷ là hiện thân của cái tàn ác, xấu xa. Khi gắn với hình tượng này, người ta sẽ nghĩ nó mang lại sự chết chóc, tàn ác và xúi quẩy. Mọi người vẫn thường sử dụng nhiều biện pháp để xua đuổi ma quỷ như một thứ tà dịch. Và khi con người làm một điều độc ác, người ta thường hay lấy hình tượng quỷ ra để so sánh. 
- Tuy vậy, trên thực tế, từ nguồn gốc của hình tượng, quỷ được sáng tạo ra nhằm ý nghĩa tích cực trong cuộc sống, nhằm giúp con người sống tốt hơn. Hình xăm mặt quỷ vì vậy mà cũng mang những ý nghĩa tích cực nhất định mà có thể bạn không biết.
Quỹ Dạ Xoa
Quỹ là hiện thân của con người
- Được sáng tạo từ xa xưa, thực tế quỷ là một hình ảnh do con người nghĩ ra nhằm biểu hiện cho phần “con” trong con người. Nếu thiên thần là biểu hiện cho những gì đẹp nhất thì ác quỷ lại là những gì xấu xa và tàn ác nhất của con người.  - Vì vậy, ý nghĩa hình xăm mặt quỷ nhắc nhở con người phải luôn biết khắc chế những bản tính không tốt trong chính mình. Do vậy mà, nó thường biểu hiện cho chu trình cải biến từ một lỗi lầm xấu xa để trở nên tốt đẹp hơn hoặc ngược lại, là sự tha hóa và thay đổi
Quỹ mang sức mạnh vô hình
- Quỷ trên thực tế không hoàn toàn xấu. Ví dụ như hình tượng quỷ oni của Nhật Bản không chỉ tượng trưng cho sự xấu xa tàn ác mà nó còn biểu trưng cho sức mạnh vô địch có thể đánh tan mọi thứ lực khác. 
- Vì vậy, sở hữu cho mình một mặt quỹ là cách thể hiện sức mạnh và quyền uy, đồng thời tạo sức mạnh xua đuổi mọi tà ác khác. Người ta cho rằng quỷ vốn xấu hoặc tốt là do bản thân nó có thích hay không.
- Các thiết kế hình xăm mặt quỷ thường tạo cảm giác ghê rợn cho người nhìn với màu sắc chủ đạo là gam tối, chủ yếu là màu đen. Với những họa tiết cầu kì ghê rợn, mặt quỷ tạo cho bạn sự nổi bật nhất định. 
- Tuy nhiên, với những ý nghĩa tích cực trong cội nguồn của nó, hình xăm mặt quỷ có thể trở thành một bùa hộ thân bảo vệ bạn trong cuộc sống bởi biểu tượng sức mạnh vô hình của nó.

Quỹ Hanya Và Ý Nghĩa Hình Xăm Của Nó

Hình xăm mặt quỷ tuy không phải là hình xăm phổ biến trong giới xăm hình nhưng nếu sở hữu một hình xăm này, bạn thực sự là người cá tính và phong cách. 
Bên cạnh những ý nghĩa xấu xa mà người ta vẫn thường nghĩ cho hình xăm mặt quỷ, trên thực tế, hình xăm này cũng mang những ý nghĩa tích cực nhất định. Những mặt tích cực trong ý nghĩa hình xăm mặt quỷ dưới đây sẽ làm bạn có cái nhìn mới về mẫu hình xăm đặc biệt này.
Hình xăm quỹ hanya
- Theo quan niệm của người xưa, quỷ là hiện thân của cái tàn ác, xấu xa. Khi gắn với hình tượng này, người ta sẽ nghĩ nó mang lại sự chết chóc, tàn ác và xúi quẩy. Mọi người vẫn thường sử dụng nhiều biện pháp để xua đuổi ma quỷ như một thứ tà dịch. Và khi con người làm một điều độc ác, người ta thường hay lấy hình tượng quỷ ra để so sánh. 
- Tuy vậy, trên thực tế, từ nguồn gốc của hình tượng, quỷ được sáng tạo ra nhằm ý nghĩa tích cực trong cuộc sống, nhằm giúp con người sống tốt hơn. Hình xăm mặt quỷ vì vậy mà cũng mang những ý nghĩa tích cực nhất định mà có thể bạn không biết.
Quỹ Dạ Xoa
Quỹ là hiện thân của con người
- Được sáng tạo từ xa xưa, thực tế quỷ là một hình ảnh do con người nghĩ ra nhằm biểu hiện cho phần “con” trong con người. Nếu thiên thần là biểu hiện cho những gì đẹp nhất thì ác quỷ lại là những gì xấu xa và tàn ác nhất của con người.  - Vì vậy, ý nghĩa hình xăm mặt quỷ nhắc nhở con người phải luôn biết khắc chế những bản tính không tốt trong chính mình. Do vậy mà, nó thường biểu hiện cho chu trình cải biến từ một lỗi lầm xấu xa để trở nên tốt đẹp hơn hoặc ngược lại, là sự tha hóa và thay đổi
Quỹ mang sức mạnh vô hình
- Quỷ trên thực tế không hoàn toàn xấu. Ví dụ như hình tượng quỷ oni của Nhật Bản không chỉ tượng trưng cho sự xấu xa tàn ác mà nó còn biểu trưng cho sức mạnh vô địch có thể đánh tan mọi thứ lực khác. 
- Vì vậy, sở hữu cho mình một mặt quỹ là cách thể hiện sức mạnh và quyền uy, đồng thời tạo sức mạnh xua đuổi mọi tà ác khác. Người ta cho rằng quỷ vốn xấu hoặc tốt là do bản thân nó có thích hay không.
- Các thiết kế hình xăm mặt quỷ thường tạo cảm giác ghê rợn cho người nhìn với màu sắc chủ đạo là gam tối, chủ yếu là màu đen. Với những họa tiết cầu kì ghê rợn, mặt quỷ tạo cho bạn sự nổi bật nhất định. 
- Tuy nhiên, với những ý nghĩa tích cực trong cội nguồn của nó, hình xăm mặt quỷ có thể trở thành một bùa hộ thân bảo vệ bạn trong cuộc sống bởi biểu tượng sức mạnh vô hình của nó.
Đọc thêm..